THÔNG TIN DOANH NGHIỆP

TƯ VẤN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM

TƯ VẤN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM

60 Views
Tùy từng vào hình thức đầu tư khác nhau sẽ có những cách thức, điểm mạnh, điểm yếu khác nhau. Tuy nhiên thì có ba hình thức đầu tư áp dụng với nhà đầu tư là nước ngoài muốn đầu tư vào Việt Nam mà không có ký kết hợp đồng với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.


TƯ VẤN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM

Theo Luật Đầu tư 2014 đã quy định rõ các hình thức đầu tư tại Việt Nam. Theo đó có 4 hình thức đầu tư như sau:

  1. a) Đầu tư thành lập tổ chức kinh tế
  2. b) Đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế
  3. c) Đầu tư theo hình thức hợp đồng PPP
  4. d) Đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC

Tùy từng vào hình thức đầu tư khác nhau sẽ có những cách thức, điểm mạnh, điểm yếu khác nhau. Tuy nhiên thì có ba hình thức đầu tư áp dụng với nhà đầu tư là nước ngoài muốn đầu tư vào Việt Nam mà không có ký kết hợp đồng với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Đó là hình thức đầu tư thành lập tổ chức kinh tế và đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế. Mỗi hình thức này có những ưu nhược điểm khác nhau.

Đánh giá hình thức đầu tư phù hợp
  • Hình thức đầu tư thành lập tổ chức quốc tế

Đây là hình thức đầu tư mà nhà đầu tư bỏ vốn để thực hiện hoạt động thành lập doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã hoặc tổ chức khác thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh.

Theo Điều 22 Luật Đầu tư 2014 có quy định cụ thể về vấn đề này như sau:

“1. Nhà đầu tư được thành lập tổ chức kinh tế theo quy định của pháp luật. Trước khi thành lập tổ chức kinh tế, nhà đầu tư nước ngoài phải có dự án đầu tư, thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư theo quy định tại Điều 37 của Luật này và phải đáp ứng các điều kiện sau đây:

a) Tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ quy định tại khoản 3 Điều này;
b) Hình thức đầu tư, phạm vi hoạt động, đối tác Việt Nam tham gia thực hiện hoạt động đầu tư và điều kiện khác theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
  1. Nhà đầu tư nước ngoài thực hiện dự án đầu tư thông qua tổ chức kinh tế được thành lập theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp hoặc đầu tư theo hợp đồng.
  2. Nhà đầu tư nước ngoài được sở hữu vốn điều lệ không hạn chế trong tổ chức kinh tế, trừ các trường hợp sau đây:
a) Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tại công ty niêm yết, công ty đại chúng, tổ chức kinh doanh chứng khoán và các quỹ đầu tư chứng khoán theo quy định của pháp luật về chứng khoán;

b) Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa hoặc chuyển đổi sở hữu theo hình thức khác thực hiện theo quy định của pháp luật về cổ phần hóa và chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước;

c) Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài không thuộc quy định tại điểm a và điểm b khoản này thực hiện theo quy định khác của pháp luật có liên quan và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.”

Nếu chọn hình thức đầu tư này thì trước khi thành lập tổ chức kinh tế, nhà đầu tư nước ngoài phải có dự án đầu tư, thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và phải đáp ứng một số điều kiện về tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ và các điều kiện theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên theo quy định của Luật Đầu tư.

Theo đó, về tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ, nhà đầu tư nước ngoài được sở hữu vốn điều lệ không hạn chế trong tổ chức kinh tế, trừ một số trường hợp hạn chế theo quy định của pháp luật về chứng khoán, về cổ phần hóa và chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Hình thức đầu tư này được các nhà đầu tư nước ngoài sử dụng nhiều nhất khi đầu tư vào Việt Nam bởi tính minh bạch, rõ ràng của nó bên cạnh đó việc thành lập pháp nhân tạo điều kiện cho dự án đầu tư dễ dàng hơn khi thực hiện các hợp đồng dịch vụ cho hợp đồng hợp tác kinh doanh tuy nhiên khi thành lập tổ chức kinh tế sẽ phức tạp và đòi hỏi nhiều thủ tục đầu tư chặt chẽ hơn cụ thể cần nhiều thời gian hơn so với hình thức “Góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp Việt Nam sẵn có" đồng thời không tận dụng được phần nhà xưởng, công nhân,… sẵn có của tổ chức kinh tế đã được thành lập và điều này sẽ tốn nhiều chi phí hơn và việc đầu tư vào công ty của Quý công ty sẽ mất thời gian lâu hơn


3.2  Đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế

Đây là hình thức nhà đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế để thực hiện hoạt động đầu tư. Theo đó nhà đầu tư nước ngoài thực hiện theo quy định về: Hình thức và điều kiện góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế và Thủ tục đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp cụ thể:

Tại Khoản 1 Điều 25 Luật Đầu tư 2014 quy định nhà đầu tư nước ngoài được góp vốn vào tổ chức kinh tế dưới dạng:

“a) Mua cổ phần phát hành lần đầu hoặc cổ phần phát hành thêm của công ty cổ phần;

b) Góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh;
c) Góp vốn vào tổ chức kinh tế khác không thuộc hai trường hợp trên.”

Nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế theo các hình thức quy định tại Khoản 2 Điều 25 Luật Đầu tư 2014 như sau:

“a) Mua cổ phần của công ty cổ phần từ công ty hoặc cổ đông;

b) Mua phần vốn góp của các thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn để trở thành thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn;
c) Mua phần vốn góp của thành viên góp vốn trong công ty hợp danh để trở thành thành viên góp vốn của công ty hợp danh;
d) Mua phần vốn góp của thành viên tổ chức kinh tế khác không thuộc các  trường hợp trên”

Nhà đầu tư nước ngoài được sở hữu vốn điều lệ với mức không hạn chế trong doanh nghiệp Việt Nam, trừ một số hạn chế về tỷ lệ vốn góp và phạm vi hoạt động theo quy định của pháp luật chuyên ngành và các điều ước quốc tế. Và dĩ nhiên, trên tinh thần của quy định pháp luật, nhà đầu tư nước ngoài được đối xử bình đẳng với nhà đầu tư trong nước về quyền thực hiện hoạt động đầu tư.

Đối với hình thức đầu tư này giúp các nhà đầu tư cần ít thời gian hơn so với hình thức đầu tư thành lập tổ chức kinh tế, các thủ tục hành chính xin cấp phép cũng được thực hiện một cách nhanh chóng và tiết kiệm chi phí hơn. Hơn thế nữa đầu tư theo hình thức này làm tăng tính khả thi của dự án kinh doanh tại Việt Nam, hạn chế được bớt các rủi ro của việc kinh doanh tại một môi trường đầu tư mới và tận dụng được phần đất đai, nhà xưởng, công nhân, thị trường.. sẵn có của tổ chức kinh tế đã được thành lập

Tuy nhiên bên cạnh những điểm mạnh của nó thì hình thức đầu tư này không mặc nhiên được hoạt động trên tất cả các ngành nghề công ty hiện đang hoạt động, có những ngành nghề khi nhà đầu tư Việt Nam góp vốn cần phải bỏ một số ngành nghề mà nhà đầu tư không được phép kinh doanh. Nhà đầu tư nước ngoài góp vốn vào công ty Việt Nam đang hoạt động sẽ phải tuân thủ các quy định của luật đầu tư và các cảm kết quốc tế mà Việt Nam tham gia.

  • Đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC

Hợp đồng BCC hay còn gọi là hợp đồng hợp tác kinh doanh, là hợp đồng được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập tổ chức kinh tế.

Nội dung của hợp đồng BCC: là những thỏa thuận hợp tác kinh doanh bao gồm các thỏa thuận cùng góp vốn kinh doanh, cùng phân chia lợi nhuận và cùng chịu rủi ro gồm các ý sau:

a) Tên, địa chỉ, người đại diện có thẩm quyền của các bên tham gia hợp đồng; địa chỉ giao dịch hoặc địa chỉ nơi thực hiện dự án;
b) Mục tiêu và phạm vi hoạt động đầu tư kinh doanh;
c) Đóng góp của các bên tham gia hợp đồng và phân chia kết quả đầu tư kinh doanh giữa các bên;
d) Tiến độ và thời hạn thực hiện hợp đồng;

đ) Quyền, nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng;

e) Sửa đổi, chuyển nhượng, chấm dứt hợp đồng;
g) Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, phương thức giải quyết tranh chấp.

Thông qua bản chất của hình thức đầu tư này có thể nhận ra ưu điểm của hợp đồng BCC chính là giúp các nhà đầu tư tiết kiệm được nhiều thời gian, công sức và tiền bạc do không phải thành lập tổ chức kinh tế. Hơn thế nữa với hình thức đầu tư này, các bên có thể hỗ trợ lẫn nhau những thiếu sót, yếu điểm của nhau trong quá trình sản xuất kinh doanh. Các nhà đâu tư bằng sự am hiểu về thị trường quen thuộc của mình và những thị trường mà bên đối tác chưa nắm rõ có thể giúp đỡ nhau trong việc chiếm lĩnh thị trường, ngoài ra có thể chuyển giao kỹ thuật, công nghệ hiện đại, hướng dẫn về mô hình tổ chức quản lý… Để hai bên cùng hoạt động hiệu quả, cùng đạt được lợi ích mà mình mong muốn.

Tuy nhiên cùng với ưu điểm đó là một số nhược điểm đi cùng. Vì không phải thành lập một tổ chức kinh tế mới, do vậy trong khi thực hiện dự án đầu tư việc ký kết các hợp đồng phục vụ cho việc thực hiện hợp đồng BCC. Và không thành lập tổ chức kinh tế chung đồng nghĩa với việc các bên không có một con dấu chung, mà con dấu trong thực tế ở Việt nam thì việc sử dụng trong nhiều trường hợp là bắt buộc. Do đó, hai bên phải tiến hành thỏa thuận sử dụng con dấu của một bên để phục vụ hoạt động đầu tư kinh doanh, qua đó làm tăng trách nhiệm của một bên so với bên còn lại đồng thời hình thức đầu tư theo hợp đồng BCC dễ tiến hành, thủ tục đầu tư không quá phức tạp nên loại hình này chỉ phù hợp với những dự án cần triển khai nhanh mà thời hạn ngắn. Trong thực tế hình thức này được lựa chọn để áp dụng trong một dự án đầu tư cụ thể mà nhanh chóng hồi vốn, dễ sinh lợi nên những dự án có thời gian dài, cần triển khai theo từng giai đoạn mà việc quản lý, kinh doanh phức tạp thực sự không phù hợp.

 

-------------------------------------------------------------------------------------

Kế toán ISMART chúc các bạn thành công!